Từ 01/07/2026, Thông tư 36/2026/TT-BKHCN áp dụng cơ chế quản lý theo mức độ rủi ro (Cao và Trung bình) đối với thiết bị điện, điện tử theo QCVN 4:2009/BKHCN. Việc phân loại này quyết định trực tiếp đến phương thức chứng nhận, hình thức công bố hợp quy và quy trình kiểm tra hàng nhập khẩu. Doanh nghiệp cần chủ động rà soát danh mục model, xác định đúng tiêu chuẩn thử nghiệm và chuẩn hóa hồ sơ kỹ thuật để đảm bảo thông quan và lưu thông hàng hóa suôn sẻ.
Thiết bị điện, điện tử gia dụng là nhóm sản phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn của người sử dụng. Chỉ một lỗi nhỏ về cách điện, kết cấu bảo vệ hoặc khả năng chịu nhiệt cũng có thể dẫn đến điện giật, cháy nổ và thiệt hại tài sản. Vì vậy, nhiều sản phẩm thuộc nhóm này phải đáp ứng QCVN 4:2009/BKHCN và Sửa đổi 1:2016 trước khi đưa ra thị trường Việt Nam.
Từ ngày 1/7/2026, Thông tư 36/2026/TT-BKHCN có hiệu lực, đưa hoạt động quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa sang cách tiếp cận dựa trên mức độ rủi ro. Đây là thay đổi doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu và kinh doanh thiết bị điện, điện tử cần đặc biệt lưu ý. QCVN 4:2009/BKHCN không bị thay thế tại thời điểm này; điểm mới chủ yếu nằm ở việc phân loại sản phẩm theo mức độ rủi ro, căn cứ công bố hợp quy, phương thức đánh giá sự phù hợp và yêu cầu kiểm tra đối với hàng nhập khẩu.
1.1. QCVN vẫn được áp dụng nhưng cơ chế quản lý đã thay đổi
Trước ngày 1/7/2026, các sản phẩm thuộc phạm vi QCVN 4:2009/BKHCN thường được quản lý theo nhóm sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn, với yêu cầu chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy và kiểm tra chất lượng hàng nhập khẩu theo các quy định có liên quan.
Từ ngày 1/7/2026, Thông tư 36/2026/TT-BKHCN phân chia sản phẩm, hàng hóa thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ chia thành nhóm: mức độ rủi ro cao và mức độ rủi ro trung bình. Mỗi nhóm có yêu cầu quản lý khác nhau. Khi quy định trong QCVN được ban hành trước đó khác với yêu cầu quản lý tại Thông tư 36, doanh nghiệp thực hiện theo Thông tư 36/2026/TT-BKHCN.
Một số sản phẩm áp dụng QCVN 4:2009/BKHCN được xếp vào nhóm rủi ro cao, chẳng hạn máy sấy tóc gia dụng; nồi cơm điện; ấm đun nước; bình thủy điện; một số loại quạt; dây điện bọc PVC và cáp cách điện dạng đùn thuộc phạm vi quy định.
Đối với nhóm này, doanh nghiệp công bố hợp quy trên cơ sở kết quả chứng nhận hợp quy của tổ chức chứng nhận được Bộ Khoa học và Công nghệ chỉ định. Phương thức đánh giá sự phù hợp áp dụng là phương thức 5 hoặc phương thức 7 theo Thông tư 14/2026/TT-BKHCN. Hàng hóa nhập khẩu phải thực hiện kiểm tra nhà nước về chất lượng theo quy định.
1.3. Nhóm rủi ro trung bình có thêm lựa chọn tự đánh giá
Thông tư 36/2026/TT-BKHCN cũng xếp nhiều sản phẩm áp dụng QCVN 4:2009/BKHCN vào nhóm rủi ro trung bình. Có thể kể đến một số loại quạt điện gia dụng; máy làm nóng lạnh nước uống; nồi áp suất, nồi nấu chậm, nồi hấp, ấm sắc thuốc, chảo điện; thiết bị pha trà hoặc cà phê; bàn là điện; lò vi sóng và một số loại lò nướng gia dụng.

Đối với nhóm này, việc công bố phù hợp quy chuẩn kỹ thuật có thể dựa trên kết quả chứng nhận của tổ chức chứng nhận được công nhận hoặc được chỉ định, hoặc dựa trên kết quả tự đánh giá của tổ chức, cá nhân. Các phương thức có thể áp dụng gồm phương thức 1, phương thức 5 hoặc phương thức 7 tùy loại sản phẩm và hình thức sản xuất, nhập khẩu.
Điều đó không đồng nghĩa doanh nghiệp được bỏ qua thử nghiệm. Kết quả thử nghiệm vẫn phải do tổ chức có năng lực phù hợp thực hiện. Với hàng nhập khẩu thuộc nhóm này, doanh nghiệp thực hiện công bố hợp quy trước khi lưu thông theo yêu cầu tại danh mục.
1.4. Quy định chuyển tiếp giúp doanh nghiệp tránh làm lại hồ sơ
Giấy chứng nhận hợp quy và thông báo tiếp nhận bản công bố hợp quy được cấp trước ngày 1/7/2026 tiếp tục có giá trị đến hết thời hạn ghi trên giấy tờ. Hoạt động giám sát để duy trì hiệu lực giấy chứng nhận cũ tiếp tục thực hiện theo quy định tại thời điểm cấp.
Hồ sơ đăng ký chứng nhận hợp quy hoặc kiểm tra chất lượng hàng nhập khẩu đã được tiếp nhận trước ngày 1/7/2026 nhưng chưa giải quyết xong tiếp tục được xử lý theo quy định tại thời điểm tiếp nhận.
Doanh nghiệp nên lập danh mục đầy đủ theo model, nhãn hiệu, nhà sản xuất, nước sản xuất, điện áp, công suất, công dụng và mã HS. Mỗi model cần được đối chiếu với mô tả tại Phụ lục I hoặc Phụ lục II của Thông tư 36/2026/TT-BKHCN để xác định sản phẩm thuộc nhóm rủi ro cao hay trung bình.
Đây là bước quan trọng vì cùng áp dụng QCVN 4:2009/BKHCN nhưng nghĩa vụ có thể khác nhau. Chẳng hạn, một số loại quạt thuộc nhóm rủi ro cao, các loại khác thuộc nhóm rủi ro trung bình.
Doanh nghiệp cần xác định đúng TCVN tương ứng, phiên bản áp dụng và rà soát trước các yêu cầu về chống điện giật, cách điện, nối đất, chịu nhiệt, dây nguồn, linh kiện bảo vệ, cảnh báo và hướng dẫn sử dụng.
Sản phẩm rủi ro cao áp dụng phương thức 5 hoặc 7. Nguồn hàng ổn định thường phù hợp phương thức 5; nhập khẩu theo lô có thể phù hợp phương thức 7. Với sản phẩm rủi ro trung bình, doanh nghiệp cân nhắc phương thức 1, 5 hoặc 7 và lựa chọn chứng nhận bên thứ ba hoặc tự đánh giá nếu đáp ứng điều kiện.
Hồ sơ nên gồm giấy đăng ký kinh doanh; mô tả, catalogue và ảnh sản phẩm; sơ đồ mạch; danh mục linh kiện; hướng dẫn sử dụng; nhãn hàng hóa; thông tin nhà sản xuất; kết quả thử nghiệm; tài liệu kiểm soát chất lượng và hồ sơ lô hàng.
Doanh nghiệp cần bảo đảm tên sản phẩm, model, nhãn hiệu và nhà sản xuất thống nhất trên hợp đồng, invoice, packing list, tờ khai hải quan, catalogue, mẫu thử, báo cáo thử nghiệm và giấy chứng nhận. Sai lệch thông tin giữa các tài liệu là nguyên nhân phổ biến khiến hồ sơ phải bổ sung hoặc phạm vi giấy chứng nhận không bao phủ đúng hàng hóa thực tế.
Phạm vi công nhận hoặc chỉ định phải bao phủ đúng sản phẩm, chỉ tiêu và QCVN. Nhóm rủi ro cao phải sử dụng tổ chức chứng nhận được chỉ định. Trước khi ký hợp đồng, nên xác nhận phạm vi năng lực, phương thức, số mẫu, thời gian thử nghiệm, yêu cầu đánh giá nhà máy và giám sát.
Sau đánh giá, doanh nghiệp phải công bố hợp quy theo quy định, gắn dấu CR, ghi nhãn và thể hiện cảnh báo an toàn trước khi lưu thông. Nhà nhập khẩu cần xác định rõ sản phẩm thuộc diện kiểm tra nhà nước hay công bố hợp quy trước khi lưu thông.
Doanh nghiệp cần kiểm soát thay đổi về vật liệu, linh kiện, thiết kế, nhà máy, nhà cung cấp và thông số; đồng thời lưu hồ sơ thử nghiệm, chứng nhận, công bố hợp quy và truy xuất nguồn gốc có hệ thống.
Thứ nhất, không nên mặc định tất cả sản phẩm theo QCVN 4:2009/BKHCN đều có cùng thủ tục. Hãy phân loại đến từng model và đối chiếu chính xác mã HS, mô tả kỹ thuật và nhóm rủi ro.
Thứ hai, nên xây dựng ma trận tuân thủ thể hiện từng sản phẩm, QCVN/TCVN áp dụng, mức rủi ro, phương thức đánh giá, yêu cầu thử nghiệm, chứng nhận, công bố và kiểm tra nhập khẩu.
Thứ ba, yêu cầu nhà cung cấp duy trì ổn định cấu hình và báo trước mọi thay đổi. Không nên mặc định mọi báo cáo IEC hoặc CB đều tự động thay thế kết quả thử nghiệm phục vụ hợp quy tại Việt Nam.
Thứ tư, chỉ nên tự đánh giá sản phẩm rủi ro trung bình khi có nhân sự chuyên môn và hệ thống hồ sơ đủ khả năng chứng minh tính phù hợp. Chứng nhận bên thứ ba vẫn hữu ích để tăng độ tin cậy và giảm sai sót.
Cuối cùng, doanh nghiệp nên chủ động đánh giá khoảng cách tuân thủ trước khi đặt hàng, sản xuất hàng loạt hoặc mở tờ khai nhập khẩu. Chuẩn bị sớm giúp giảm nguy cơ lưu kho, chậm thông quan, thử nghiệm lại hoặc phải điều chỉnh nhãn và hồ sơ vào phút cuối.

Từ ngày 1/7/2026, chứng nhận hợp quy QCVN 4:2009/BKHCN được thực hiện trong cơ chế quản lý mới theo mức độ rủi ro. Sản phẩm rủi ro cao tiếp tục phải chứng nhận bởi tổ chức được chỉ định và chịu kiểm tra nhà nước đối với hàng nhập khẩu; sản phẩm rủi ro trung bình có cơ chế linh hoạt hơn, bao gồm khả năng tự đánh giá trong trường hợp đáp ứng điều kiện.
Để tuân thủ hiệu quả, doanh nghiệp cần bắt đầu từ việc phân loại chính xác sản phẩm, xác định tiêu chuẩn thử nghiệm, lựa chọn phương thức đánh giá, chuẩn hóa hồ sơ và duy trì kiểm soát sau chứng nhận. Việc chuẩn bị bài bản không chỉ giúp đáp ứng yêu cầu pháp luật mà còn nâng cao độ an toàn, uy tín thương hiệu và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.
Quý công ty có nhu cầu đánh giá chứng nhận theo QCVN 4:2009/BKHCN hãy liên hệ với Viện Chất lượng ISSQ theo hotline: 0981851111 hoặc vienchatluong@issq.org.vn | tcvn@issq.org.vn để được hỗ trợ thủ tục.