QCVN mới nhất giới hạn formaldehyt trong sản phẩm dệt may
(VietQ.vn) - Bộ Công Thương đã ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) về mức giới hạn hàm lượng formaldehyt và các amin thơm chuyển hóa từ thuốc nhuộm azo trong sản phẩm dệt may.
Theo đó, tại Thông tư số 21/2017/TT-BCT là Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về mức giới hạn hàm lượng formaldehyt và các amin thơm chuyển hóa từ thuốc nhuộm azo trong sản phẩm dệt may trước khi đưa ra thị trường Việt Nam. Thông tư bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 1/5/2018.

Bộ Công Thương ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về mức giới hạn hàm lượng formaldehyt và các amin thơm chuyển hóa từ thuốc nhuộm azo trong sản phẩm dệt may. Ảnh: báo Đầu Tư
Các sản phẩm không chịu sự điều chỉnh của Quy chuẩn này gồm hành lý của người nhập cảnh, tài sản di chuyển của tổ chức, cá nhân trong định mức miễn thuế; hàng mẫu để quảng cáo không có giá trị sử dụng để nghiên cứu khoa học, phục vụ sản xuất; hàng hóa nhập khẩu để trưng bày, giới thiệu tại hội chợ triển lãm, thương mại; hàng hóa tạm nhập tái xuất; hàng hóa quá cảnh, chuyển khẩu, trung chuyển, hàng đưa vào kho ngoại quan (không áp dụng đối với hàng hóa từ kho ngoại quan đưa vào nội địa để tiêu thụ).
Bên cạnh đó là sản phẩm quà biếu tặng trong định mức miễn thuế, hàng hóa trao đổi của cư dân biên giới trong định mức miễn thuế và các sản phẩm dệt may chưa được tẩy trắng hoặc chưa nhuộm màu cũng không nằm trong sự điều chỉnh của Quy chuẩn này.
Tại thông tư cũng có quy định rõ hàm lượng formaldehyt trong sản phẩm dệt may cho trẻ dưới 36 tháng tuổi không được vượt quá 30mg/kg, sản phẩm tiếp xúc trực tiếp với da không được vượt quá 75mg/kg và sản phẩm dệt may không tiếp xúc trực tiếp với da không đucợ vượt quá 300mg/kg. Còn đối với mức giới hạn về hàm lượng các amin thơm chuyển hóa từ thuốc nhuộm azo không được vượt quá 30mg/kg.
Các sản phẩm hàng hóa trước khi đưa ra tiêu thụ trên thị trường Việt Nam phải được công bố hợp quy phù hợp với quy định của Quy chuẩn này, gắn dấu hợp quy (dấu CR) theo quy định tại thông tư 28/2012/TT-BKHCN và Thông tư 02/2017/TT-BKHCN.
(Nguồn: Vietq.vn) Minh Châu
Tin liên quan
- ISO 45001 công cụ giúp doanh nghiệp có môi trường làm việc an toàn
- Vì sao cải tiến liên tục quyết định thành công doanh nghiệp
- Mối nguy từ đồ chơi kém chất lượng đối với trẻ nhỏ
- Kiểm soát rủi ro chuỗi cung ứng dầu khí với ISO 29001
- Doanh nghiệp xanh, sản phẩm sạch cùng ISO 22000
- ISO 14001 nền tảng xây dựng hệ thống Môi trường - Xã hội và Quản trị
- SA 8000 giúp doanh nghiệp Việt hội nhập thị trường quốc tế
- Tiêu chuẩn ISO 21001 áp dụng đối với tổ chức giáo dục
- Tác hại của sơn chứa chì đến cơ thể người
- Tại sao máy giặt, tủ lạnh, bóng đèn phải chứng nhận theo QCVN 9:2012/BKHCN?
- Tiêu chuẩn ISO 28000 kiểm soát rủi ro trong lĩnh vực logistics
- Giải pháp bảo vệ dữ liệu thời 4.0 cùng ISO 27001
- Viện Chất lượng ISSQ phối hợp với Bộ Quốc phòng tổ chức Lớp Đào tạo TCVN ISO 9001:2015 năm 2025 khu vực phía Nam
- Viện Chất lượng ISSQ phối hợp với Bộ Quốc phòng tổ chức Lớp Đào tạo TCVN ISO 9001:2015 năm 2025 tại Hà Nội
- Cách nhận biết đồ chơi an toàn cho trẻ dưới 3 tuổi với QCVN 3
- Công bố 15 TCVN về Hệ thống pin lưu trữ năng lượng tại Việt Nam
- ISO công bố tiêu chuẩn quốc tế về đa dạng sinh học
- Đánh giá chứng nhận tấm sóng amiăng phù hợp theo QCVN 16:2023/BXD
- ISO 22000 - Chìa khóa nâng cao an toàn chuỗi thực phẩm và uy tín doanh nghiệp Việt
- Hội nghị Báo cáo kết quả triển khai dự án và công bố “20 tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) về Điện gió ngoài khơi tại Việt Nam”
